Lượt truy cập: 267

Thông tin

Thêm »

Chưa cập nhật

Danh sách blog Viết blog

Ngũ Bộ Chú - Phật Giáo Đại Thừa Tây Tạng

Vajrasattva viết 18/9 lúc 03:07

NGŨ BỘ THẦN CHÚ gọi tắt là NGŨ BỘ CHÚ là 1 trong những phương pháp tu trì tiêu biểu nhất của mật tông việt nam ! Ngũ bộ chú là 5 bộ chú của 5 bộ trong phật giáo ! để tìm hiểu ngũ bộ chú , chúng ta hãy tìm hiểu theo thứ tự như sau THẾ NÀO LÀ NGŨ BỘ ? ngũ bộ tức là 5 bộ . Trong Phật giáo chia thành 5 bộ tộc chính ! 1 là Phật Bộ ( chư phật ) 2 là liên hoa bộ ( chư bồ tát của dòng liên hoa , hiền hòa : quán tự tại ... ) 3 là kim cang bộ ( chư bồ tát , hộ pháp thuộc dòng dõng mãnh , phẫn nộ kim cang ) 4 là bảo bộ ( chư thiên ) 5 là yết ma bộ ( còn gọi là nghiệp dụng bộ . tức là chư quỷ thần ) 5 VỊ PHẬT TƯỢNG TRƯNG CHO NGŨ BỘ nói 1 cách đơn giản , dễ hình dung , trong cuộc sống chúng ta , mỗi 1 bộ tộc người đều có 1 người đứng đầu , làm chủ . thì trong các bộ của phật giáo cũng vậy , 5 bộ đều có 5 vị phật đứng đầu , tượng trưng cho mỗi bộ . và được chi ra như sau Phật Bộ thì có đức Tỳ Lô Giá Na ( vairocana ) Như Lai hay còn gọi là Đại Nhật Như Lai làm giáo chủ Liên Hoa Bộ thì có đức A D Đà ( Amita ) Như lai hay còn gọi là Vô Lượng Thọ Phật làm giáo chủ Kim Cang Bộ thì có đức A Súc Bệ ( Aksobhya ) Như Lai làm giáo chủ bão bộ thì có đức Bảo Sanh ( Ratnasambhava ) Như Lai làm giáo chủ Yết Ma Bộ ( nghiệp dụng bộ ) thì có đức Bất Không Thành Tựu (Amogasiddhi ) làm giáo chủ 5 vị Phật này trong mật tông còn gọi là Ngũ Phương Ngũ Phật , Ngũ Trì Như Lai , Ngũ Phương Phật ! NGŨ BỘ THẦN CHÚ Ngũ Bộ chú được viết như sau : Om Ram Om Shrim Om Mani Pedme Hum Om Cale Cule Cunde Svaha Om Bhrum   GIẢNG SƠ LƯỢC VỀ NGŨ BỘ THẦN CHÚ Thần chú Om ram , là thần chú tịnh pháp giới , thần chú này , tượng trưng cho Kim Cang Bộ .chú này phá tan phiền não chướng đang ngăn che ánh sáng thắng diệu của Trí Tuệ bản nhiên trong tâm của mọi chúng sinh . Chữ Ram tức là lửa , lửa trí tuệ thiêu đốt mọi phiền não , nghiệp chướng của chúng sinh , khiến cho chúng sinh được thanh tịnh , chú này còn có thể dùng để thanh tịnh pháp đàn , .... thần chú Um Shrim là thần chú hộ thân , tượng trưng cho bảo bộ . chúa này nhằm nuôi lớn phước đức đang tiềm ẩn trong tâm của chúng sinh khiến cho họ tự nhận biết rằng mình vốn có đầy đủ công đức như Chư Phật . ngoài ra chú này còn trừ được tất cả tà ma , quỷ thần . . Thần chú Om Mani Pedme Hum là Lục Tự Đại Minh chú . là thần chú tâm của đức quán tự tại , tượng trưng cho liên hoa bộ , thần chú này nhằm làm tươi tốt muôn điều lành và khai mở cho chúng sinh tự thấu ngộ được bản tâm thanh tịnh vô cấu nhiễm vốn có nơi mình . THần chú này diệt trừ nghiệp chướng rất tốt ! Thần chú Om Cale Cule Cunde Svaha . là thần chú của đức chuẩn đề phật mẫu , tượng trưng cho yết ma bộ . thần chú này giúp chúng sinh đoạn trừ mọi mê vọng để tự chứng đạt được Bản Tâm tịch tĩnh an nhiên của chính mình . ( thần chú này có giải đáp rất nhiều ở các bài trước , nên xin không bàn thêm ) Thần chú Om Bhrum , là nhất tự đảnh luân vương chú , tương trưng cho Phật Bộ . Thần chú này giúp chúng sinh tự thấu ngộ rằng mình vốn có Lý Trí đầy đủ, Giác Đạo viên mãn chỉ vì Vô minh che lấp nên chưa hiển lộ . Nay được ánh quang minh thắng thượng của Phật Tuệ soi sáng mà khởi Tâm Tàm Quý ( hổ trẽn) quyết chí noi dấu Đức Đại Từ Phụ mà tu tập Chính Pháp giải thoát vô thượng . LỢI ÍCH CỦA NGŨ BỘ CHÚ : ngũ bộ chú nếu ai trì tụng được lâu dài thì công đức vô cùng to lớn . Không thể tính đếm , phàm có nguyện chi cũng đều thành tựu . Luôn gần gủi chánh pháp , tam bảo , vĩnh viễn xa lìa ác đạo , làm bạn lành với các thiện tri thức , bồ tát , chư thiên luôn ủng hộ . Chư Phật Gia trì ngày đêm . Công đức , lợi ích không thể nghĩ bàn.   Ngũ Bộ Chú  là một nghi thức trì niệm của Mật  Giáo gồm có 5 Chú Đà La Ni là : Tịnh Pháp Giới Chân Ngôn, Văn Thù Nhất Tự Hộ Thân Chân Ngôn, Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn, Chuẩn Đề Cửu Thánh Tự Chân Ngôn và Nhất Tự Kim Luân Phật Đỉnh Chân Ngôn . Nguyên khởi của năm Bộ Chú này thì không biết rõ, chỉ nhận biết được qua quyển :Hiển Mật Viên Thông Thành Phật Tâm Yếu do Ngài Thích Đạo Chân ở chùa Kim Hà trên núi Ngũ Đài biên tập . Từ đấy trở đi, nghi thức này được phổ truyền trong Nhân gian ; đến nay hầu như trong giáo đồ Phật Giáo Đại Thừa, ai cũng có thể thuộc lòng năm câu Chú này Về ý nghĩa của Chú Đà La Ni thì đại đa số các Dịch Giả không chịu phiên dịch vì  5 duyên cớ : 1 . Vì tâm niệm bí mật nên không phiên dịch 2 . Vì ý nghĩa bí mật nên không phiên dịch 3 . Vì danh tự bí mật nên không phiên dịch 4 . Vì âm thanh bí mật nên không phiên dịch 5 . Vì thiện sinh bí mật nên không phiên dịch. Lại có một số học giả dựa theo nguyên tắc Ngũ chủng bất phiên do Ngài Huyền Trang đề xuất nên không chịu phiên dịch Chú Đà La Ni, đó là : 1.       Trang trọng bất phiên (Tôn trọng sự trang nghiêm nên không phiên dịch ) 2.       Đa Hàm bất phiên ( Do một chữ có rất nhiều nghĩa nên không phiên dịch ) 3.       Bí mật bất phiên ( Do sự bí mật nên không phiên dịch ) 4.       Thuận cổ bất phiên (Do thuận theo người xưa nên không phiên dịch ) 5.       Thử phương bất phiên (Do phương này không có nghĩa thú đó nên không phiên dịch ) Chính vì Chú Đà La Ni không được phiên dịch nên nhiều người học Phật cho rằng Chú Đà La Ni không hề có nghĩa lý mà chỉ là một số âm vận ghép lại mà thành . Từ đấy họ nhận định rằng những ai tu học tìm cầu đường lối giải thoát qua phương pháp trì niệm Chú Đà La Ni đều là những kẻ mê tín dị đoan, không thể nào nhận chân được Chính Pháp giải thoát của Đức Phật . Trong quyển “Buddhism of Tibet or Lamaism”  ông Austin Waddwell nhận định rằng : “Những Mạn Trà (Mantra -Thần Chú ) và Đà La Ni (Dhàranïi - Tổng Trì ) là những tiếng ú ớ vô nghĩa, cái huyền bí của nó là một trò đùa ngu xuẩn với những tiếng lóng tối nghĩa và vong Pháp, còn Thiền của nó là một thứ ăn hại mà sự phát triển quỷ quái đã phá tan và làm ung thối đời sống bé nhỏ của chút kho tàng trong trắng còn lại của Đại Thừa Phật Giáo...” Trong thực tế, các Đạo Sư  Mật Giáo đã giảng nghĩa lý cơ bản của các câu Chú ( Mantra ) Đà La Ni ( Dhàranïì  ) và Đàn Pháp (Manïdïala) rất nhiều - như Tam Tạng Thiện Vô Úy (‘Subhakara  Simïha : 637 - 735 ) đã giảng dạy ý nghĩa câu chú A VAMÏ RAMÏ HAMÏ KHAMÏ . . ., ngài Sa môn Nhất Hạnh (Ichigyo 638 - 727) giảng nghĩa lý của rất nhiều câu chú và ghi trong bộ Đại Nhật Kinh Sớ  . . . , ngài Đại Quảng Trí Bất Không (Amogha Vajra 705 - 774) đã chú giải nghĩa của bài chú LĂNG NGHIÊM . . ., ngài Không Hải (KuKai 774 - 835 ) giảng nghĩa hai Manïdïala trọng yếu của Mật giáo là Thai Tạng Giới ( Garbha dhàtu ) và Kim Cương Giới ( Vajra dhàtu). . ., ngài Thái Hư đại sư giảng nghĩa câu Chú Nhân Vương Hộ Quốc Đà La Ni  . . ., các đạo sư Mật giáo Tây Tạng cũng giảng dạy nghĩa lý của nhiều câu chú như Lục Tự Đại Minh chú, Kim Cương Thượng Sư chú, Tam Tự Tổng Trì Chân Ngôn . . . và trong  các quyển Mật Giáo Đồ Tượng đã ghi nhận nhiều lời giảng dạy về ý nghĩa của Chú Đà La Ni . Trong Mật Tạng Đồ Tượng, quyển 3 , trang 219 có ghi nghĩa của bài Chú Như Ý Luân Đà La Ni  như sau : - Namo  là : Quy mệnh - Ratnatrayàya  là Tam Bảo - Namahï  là Khể thủ  (cúi lạy ) - Aryàvalokita  là Thánh Quán - I‘svaràya  là : Tự tại - Bodhisatvàya  là  : Bồ Tát - Mahàsatvàya  là : Đại dũng mãnh đạo tâm giả (Bậc có tâm đạo đại dũng mãnh  ) - Mahà Kàrunïikàya  là Đại Từ Bi tâm giả (Bậc có tâm Đại Từ bi  ) - Tadyathà  là Như vậy ; Khai Như Lai Tạng thuyết chân ngôn  (Mở Tạng Như Lai nói chân ngôn  ) - OMÏ   là : thành ở ba thân . Dùng ba chữ A  , U  , MA  hợp thành một chữ ( OMÏ ) với A là Pháp thân, U là Báo thân, MA là Hoá thân . Do ba chữ này khế hợp với Thật Tướng, tức thành nghĩa Khể thủ lễ nhất thiết Như Lai (Cúi đầu lễ tất cả Như Lai ) cũng có nghĩa là Như Lai Vô Kiến Đỉnh ( Nhục Kế không thể thấy của Như Lai ) - Cakra vartti  là : hay chuyển bánh xe Pháp vô thượng, cũng có nghĩa Đập phá. - Cintà manïi  là Tư Duy Bảo, cũng có nghĩa là Như Lai Bảo - Bảo  ( báu ) có 6 loại hay làm thỏa mãn các nguyện của chúng sinh . - Mahà padme là Đại Liên Hoa, biểu thị cho sự Tĩnh các phi pháp, vốn chẳng nhiễm . - Ruru là : lìa bụi nhơ - Vì bụi có hai loại nên xưng 2 lần chữ Ru. Thứ nhất là Nội Trần tức 5 căn, thứ hai là Ngoại Trần, tức là 5 cảnh . Cả hai Trần đều Vô sở đắc nên dùng làm phương tiện để thành Du Già Quán Trí - Tisïtïa   : Là Trụ, cũng có nghĩa là Vô Trụ . VÔ TRỤ được dùng làm gốc của tất cả các Pháp cũng nói là Vô trụ Niết Bàn, bất trụ sinh tưû. Do Đại Trí cho nên chẳng nhiễm sinh tử . Do Đại Bi cho nên chẳng trụ Niết Bàn . - Jvala là lửa bùng cháy . Ánh sáng tràn khắp Pháp Giới, cảnh giác Thánh Chúng giáng tập phổ khởi ; Triệu tất cả Thiên Long Bát Bộ, các loại hữu tình vì ích lợi mà gia hộ . - Akarsïaya là : Thỉnh triệu. Do sự thỉnh triệu này : Chư Phật, Bồ Tát, Thiên Long Bát Bộ ứng với lời triệu mà đến, thảy đều vân tập, gia trì hộ niệm . - Hùmï   là Tất cả Pháp vô nhân, cũng nói là Bồ Đề Đạo Tràng tức ngồi ở Bồ Đề Đạo Tràng chuyển bánh xe Chính Pháp . Do tương ứng với một chữ chân Ngôn này tức hay chứng ngộ tất cả Phật Pháp . Khi niệm niệm chứng ngộ Phật Pháp thì đủ Trí Tát Bà Nhã ( Sarva jnõà_ Nhất Thiết Trí ) đi thẳng đến cứu cánh, ngồi Tòa Kim Cương, 4 ma hiện trước mặt, liền nhập vào Đại Bi Tam Muội giáng phục 4 Ma tức thành Chính Giác . - Pha   là Phá nát . Khi thành Phật thì phá 4 Ma - TÏ  là : Tất cả Vô sở đắc , phàm vẽ hình như nửa vành trăng . Thích nói rằng : Tất cả Ngã vô sở đắc dùng làm phương tiện liền thành , sinh thành không, thành bán ( một nửa  ) - SVÀ  là vô ngôn thuyết . Tức thành Pháp KhôngTrí, nghĩa là Mãn Tự ( Chữ đầy đủ )  cũng nói là Thành tựu Đại Phước Đức  - HÀ  là  đoạn phiền não . Khiến các Hữu Tình  đoạn hại phiền não, trừ bỏ tai họa . Mọi sự trông thấy đều vui vẻ . Sau khi mệnh chung, sinh về thế giới Cực Lạc (Sukhavati ) , hóa sinh trong Hoa sen, thấy Phật Vô Lượng Thọ ( Amitàyuhï )  được nghe Chính Pháp, mau chứng Bồ Đề . Trong Tổng Thích Đà La Ni Nghĩa Tán  do ngài Tam Tạng Sa môn Đại Quảng Trí Bất Không phụng chiếu giải thích có ghi rằng : Đức Như Lai ở trăm ngàn Câu chi A tăng kỳ kiếp gom chứa chất liệu Bồ Đề, gia trì văn tự Chân Ngôn của Đà La Ni khiến cho Bậc Bồ Tát đến ngộ tương ứng với điều này mà đốn tập chất liệu của Phước Đức và Trí Tuệ . Ở nơi Đại Thừa, cần tu hành hai lối của Bồ Tát Đạo để chứng đạo Vô Thượng Bồ Đề . Ấy là : y theo các Ba La Mật để tu hành thành Phật, và y vào ba Mật Môn của Chân Ngôn Đà La Ni  để tu thành Phật . ( Đà La Ni ( Dhàranïì ) là tiếng Phạn, thường phiên dịch theo nghĩa Tổng trì  . Có 4 loại trì là : Pháp Trì, Nghĩa Trì, Tam Ma Địa Trì, Văn Trì . A . Pháp Trì : Do được Trì này mà đập tan tất cả các Pháp tạp nhiễm và chứng được giáo pháp lưu lộ từ nơi Pháp Giới thanh tịnh . B . Nghĩa Trì : Do được Trì này nên ở trong nghĩa của một chữ mà được trăm ngàn vô lượng hạnh của Tu Đa La ( Sutra _ Khế Kinh ) và diễn nói thuận nghịch đều tự tại C . Tam Ma Địa Trì : Do được Trì này nên Tâm chẳng tán động mà được Tam Muội hiện tiền, ngộ được vô lượng trăm ngàn môn Tam Ma Địa . Vì tăng trưởng Tâm Bi của Bồ Tát cho nên dùng nguyện thọ sinh nơi sáu nẻo mà chẳng bị Căn Bản Phiền Não (Mùla-Kle’sa) với Tùy Phiền Não (Upakle’sa) phá hoại được Tam Muội ấy . Lại do Tam Muội  Địa này mà chứng được năm thần thông để thành tựu sự lợi lạc cho vô biên chúng Hữu Tình . D .  Văn Trì : Do đây mà thọ trì Đà La Ni để thành tựu sự nghe, ấy là tất cả Khế Kinh ở chốn của tất cả Như Lai và tất cả Bồ Tát, nghe được trăm ngàn vô lượng Tu Đa La ( Sutra_ Khế Kinh )  mà chẳng hề quên mất. - Chân Ngôn cũng có đủ 4 nghĩa - Chân là tương ứng Chân Như, Ngôn là thích dịch nghĩa chân thật  . Bốn nghĩa của Chân ngôn là : 1 . Pháp Chân Ngôn  : là Pháp giới thanh tịnh dùng làm Chân Ngôn . 2 . Nghĩa Chân Ngôn  : là tương ứng Thắng nghĩa, trong mỗi mỗi chữ có sự tương ứng chân thật . 3 . Tam Ma Địa Chân Ngôn  : Do bậc Du Già dùng Chân Ngôn này để bố liệt ( An bày ) văn tự của Chân Ngôn lên trên vành trăng KÍNH TRÍ của Tâm đồng thời chuyên chú Tâm chẳng lay động mà mau chóng chứng được Tam Ma Địa . Vì thế gọi là Tam Ma Địa Chân Ngôn . 4 . Văn Trì Chân Ngôn  : Từ chữ ÁN ( OMÏ ) cho đến chữ SA PHỘC  HA ( SVÀHÀ )  có bao nhiêu văn tự ở khoảng giữa thì mỗi mỗâi chữ đều gọi là Chân Ngôn, cũng gọi là Mật Ngôn và cũng có đủ 4 nghĩa : a . Pháp Mật Ngôn : chẳng phải là phi pháp với cảnh giới của Nhị Thừa và Ngoại Đạo mà chỉ tu Chân Ngôn Hạnh Bồ Tát . Tất cả Sở văn, Sở từ, Ấn khế, Man Đa La, tu hành Sở cầu Tất Địa đều gọi là Pháp Mật Ngôn b . Nghĩa Mật ngôn : là mỗi mỗi chữ trong Chân Ngôn thì chỉ có Phật với Phật cùng với Bậc Bồ Tát đại  uy đức mới có thể nghiên cứu hết mà thôi . c . Tam Ma Địa Mật Ngôn : là do Tam Ma Địa và văn tự của Chân Ngôn trong sự kiện này mà tương ứng được uy lực . d . Biến Bố Mật Ngôn : là theo Thầy mật truyền quy tắc của ba Mật, chỉ có Thầy và Đệ Tử biết thôi chẳng thể cho người khác biết được cho đến Quán Môn, Ấn Khế, hình tượng của Bản Tôn cũng mật thọ trì cho đắc được Tâm Sở hy vọng Tam Ma Địa . ( Sự nghe giữ chẳng quên, Thiên Nhãn, Thiên Nhĩ , Tha Tâm và Tất Địa thượng trung hạ cũng gọi là MINH ( Vidya ) . Minh có 4 nghĩa là : A . Pháp Minh : Kẻ tu hành xưng tụng thì  ánh sáng trong mỗi mỗi chữ chiếu khắp mười phương Thế Giới khiến cho tất cả chúng sinh Hữu Tình đang chìm đắm trong biển khỗ sinh tử đều phá được phiền não vô minh, đều xa lìa khổ đau mà được giải thoát . Vì thế, gọi là Pháp Minh . B . Nghĩa Minh : Là do bậc Du Già tương ứng với nghĩa của Chân Ngôn nên thông đạt, minh liễu được Bát Nhã Ba la Mật mà xa lìa đạo lý vô nghĩa . C . Tam Ma Địa Minh : Là do quán tưởng Chủng Tử ( Bìja ) của Chân Ngôn ở trong vành trăng Tâm mà đắc được đại quang minh, tác Tự Tha Chiếu Minh Tam Ma Địa  mà thành tựu . D . Văn Trì Minh : Là chứng được Văn Trì Pháp ( ‘Srutimyò Dharma )  hay phá được các Hoặc của sự lãng quên. chứng đắc Tâm Bồ Đề ( Bodhi Citta ) mà thành tựu . Như trên là nghĩa của Đà La Ni, Chân Ngôn, Mật Ngôn và Minh đều dựa theo Phạn văn . Lại ở trong Tu Đa La của Hiển Giáo hoặc ở trong Chân Ngôn của Mật Giáo cũng xưng nói 4 điều như vậy . Hoặc có Chân Ngôn có 1 chữ, 2 chữ, 3 chữ, 100 chữ, 1000 chữ, vạn chữ cho đến biến con số này thành vô lượng vô biên chữ thì đều gọi là Đà La Ni, Chân Ngôn, Mật Ngôn, và Minh . Nếu tương ứng với ba Mật Môn thì chẳng cần phải trải qua nhiều kiếp cực nhọc tu hành khỗ hạnh mà lại hay mau chóng chuyển được Định Nghiệp để dễ thành tựu sự an lạc và thành Phật . Do đó nên biết đây chính là con đường đi mau chóng vậy . Theo từ ngữ thì Thần Chú ( Mantra) là lời cầu đảo, câu chú nguyện có ý nghĩa rấr bí hiểm, khi đọc lên có tác dụng hiện ra các hiện tượng thiên nhiên cả lành lẫn dữ . Hoặc Mantra diễn tả ước vọng mãnh liệt, khát vọng nổng nhiệt của mục đích nhằm ve vãn các Thần Linh . Do đó, Mantra là phương tiện đi đến giao hảo với những sức mạnh vô hình chung quanh chúng ta và rất hiệu nghiệm nếu chúng ta thực hành đúng tất cả quy luật chi ly của Mantra ấy . Dựa vào ý nghĩa này, các hệ phái Bí Mật của Thần Giáo đã dùng những Mantra vào những mục đích nhằm thỏa mãn những dục vọng cá nhân như : đạt năng lực siêu nhiên ; trừ Ma Quỷ bệnh tật ; thư  ếm ; cầu giầu sang , phú quý, quyền lực, danh vọng... Theo Mật Tông Phật Giáo thì Thần Chú  (mantra) là ngôn ngữ bí mật được phát ra do sức thiền định nên có thần lực không thể lường được . Vì thế Thần Chú cũng gọi là chú Đà La Ni nghĩa là chú Tổng Trì không mất . Diệu dụng của chú Đà La Ni là tạo ra sự suy nghĩ cho Hành Giả ; giữ gìn và thâu tóm mọi nghĩa lý làm tiền đề cho việc tham khảo của hành giả tức là đề mục của sự Trì niệm quán tưởng nhằm đi vào Chính Định để phát sinh Trí Tuệ . Trên công năng căn bản thì Chú Đà La Ni nắm giữ Pháp lành  không cho tản mất, chế ngự Pháp ác  không cho nổi lên, từ đấy sinh ra mọi công đức diệu dụng . Dựa vào ý nghĩa này, các vị Du Già Mật Tông luôn giữ gìn Thân, Khẩu, Ý cho trong sạch ; thường xuyên tu tập thiền định quán tưởng cho đến khi thực chứng được Trí Tuệ giải thoát chứ không hề lưu tâm đến các năng lực thần thông có được trong thời gian tu tập . Đây chính là điểm sai biệt giữa Mật Tông Phật Giáo với các giáo phái bí mật khác . Lại nữa, tùy theo trình độ cao thấp, giác ngộ cạn sâu mà Chú Đà La Ni ( hay Thần Chú  ) được chia làm 5 loại : 1 . Thần Chú của Chư Phật 2 . Thần Chú của Chư Bồ Tát và Kim Cương Mật Tích 3 . Thần Chú của Chư Thánh Văn và Bích Chi Phật 4 . Thần Chú của chư Thiên 5 . Thần Chú của các vị Quỷ Thần ( Rồng, Chim, A tu la, Dạ xoa, La sát, Quỷ đói...) Mỗi một Thần Chú được biểu tượng cho mỗi một Giáo Pháp đang lưu lộ từ nơi Pháp Giới thanh tịnh . Mỗi một Giáo Pháp lại được biểu tượng bằng một Bản Tôn . Mỗâi Bản Tôn đều gổm đủ  3 mật của Thân, Khẩu, Ý trong đó Hình sắc các chữ biểu thị cho Thân Mật, âm thanh các chữ biểu thị cho Khẩu Mật, nghĩa thú các chữ biểu thị cho Ý Mật . Nếu tương ứng được ba môn Mật ấy tức chứng được một Giáo Pháp giải thoát . Từ đây, hành giả sẽ tu tập mọi Giáo Pháp để thực chứng quả vị Vô thượng Bồ Đề . Dựa vào ý nghĩa này, các vị đạo sư Mật Tông thường khuyên dạy các Đồ Chúng rằng : Hãy trì niệm Chân Ngôn thật chậm rãi, rõ ràng, không được bỏ sót hay lãng quên để cho thân tâm được an tĩnh . Tiếp đó, hãy nhiếp tâm ý quán tưởng các chữ của Chân Ngôn chuyển biến thành Bản Tôn với đầy đủ sắc tướng uy nghi, tâm lặng, Pháp hỷ, uy mãnh . . . mỗi mỗi đều như Ấn của Thân Ý mật chẳng được sai lầm . Sau đó quán thân của Bản Tôn ; chẳng tác tưởng trong ngoài cho đến khi khoảng cách tâm ý về người trì niệm, Pháp trì niệm và đối tượng trì niệm đều tan biến cả thì lúc ấy thân của Bản Tôn tức là thân của hành giả nghĩa là hành giả đã bước vào chính định . Nơi đây, mọi nghĩa thú của Chân Ngôn sẽ được sáng tỏ và hành giả sẽ mau chóng trực kiến được Chính Pháp giải thoát vốn có từ xưa trong bản tâm mình . Bình thường, để nhắc nhở các đệ tử đừng lãng quên ý hướng tu tập của mình, các vị đạo sư Mật Tông thường minh họa hình tượng của các Tôn trong một Đàn Pháp gọi là MANÏDÏALA với ý nghĩa cứu cánh là Luân Viên Cụ Túc  hay Phát Sinh Chư Phật    . Ngoài ra, các Ngài còn ghép các bài Chú riêng biệt hợp thành một nghi thức niệm tụng để giáo hoá các đệ tử và Ngũ Bộ Chú chính là một trong các phương pháp minh định cho Đồ Chúng thâm nhập vào pháp Hiển Mật Viên Thông Thành Phật Tâm Yếu  vậy .   I . TỊNH PHÁP GIỚI CHÂN NGÔN   OM RAM   Om : nghĩa là tham thân quy mệnh Ram: là thanh chuyển của chữ Ra, trong đó RA là chủng tử của bụi dơ, nó đưa đến sự mê mờ chướng ngại . Nhưng trong chữ RA lại có mẫu âm A, khi nhập vào chữ A thì có thể dứt trừ được mọi sự mê mờ chướng ngại . Do vậy, RA tự môn có ý nghĩa là xa lìa tất cả bụi dơ phiền não . Trong năm đại thì RA biểu tượng cho Hỏa đại mà lửa thì có hai loại là lửa thế gian  và lửa xuất thế gian . 1 . Lửa thế gian : có hai loại là nội hỏa và ngoại hỏa . a . Nội hỏa : tượng trưng cho lửa phiền não của ba độc Tham, Sân, Si hay thiêu đốt tất cả căn lành của các chúng sinh . b . Ngoại hỏa : là sức nóng ấm áp hay thành tựu chúng sinh và nuôi lớn vạn vật 2 . Lửa xuất thế gian : còn gọi là Trí Hỏa, lửa này hay thiêu đốt tất cả phiền não của chúng sinh với tập khí của Bổ Tát, tức là đốt cháy mọi Vô minh, phiền não, ám chướng của tất cả chúng sinh . Vì chúng sinh không thật sự biết mình vốn có tâm tính cực thanh tĩnh lại mải mê đeo đuỗi các trần cảnh cho nên nguyên tố nung nóng (Hỏa đại ) đã tạo thành nhiệt tâm đam mê ích kỷ, chỉ muốn tìm kiếm mọi cảm giác làm thỏa mãn ý riêng, chẳng lưu tâm đến sự tàn hại xảy ra với ngoại giới . Do đây, NGÃ CHẤP mỗi lúc mỗi được củng cố bền chắc, các căn bất thiện được dịp tăng trưởng, gây trở ngại, phá hủy các căn lành và dẫn dắt chúng sinh lăn lộn trong bùn sinh tử khỗ đau . Ngược lại, nếu chúng sinh nào bíết trừ diêät NGÃ CHẤP qua phương pháp Bố Thí  và tự thanh tịnh thân tâm qua phương pháp Trì Giới  thì nhiệt tâm đam mê ích kỷ sẽ bị thiêu hủy . Lúc ấy, nguyên tố nung nóng sẽ chuyển thành ánh sáng rực rỡ của Trí Tuệ chiếu phá  mọi Vô minh ám chướng trong Pháp giới, giúp cho chúng sinh tự nhận biết được bản tâm cực thanh tĩnh của chính mình . Từ đây, Chân Pháp Chân Trí xuất hiện và thúc đẩy chúng sinh ấy đi thẳng đến quả vị Vô thượng Chính Đẳng Chính Giác. Dựa vào ý nghĩa này, các Đạo sư Mật Tông đã nhận định rằng : RA tự môn là Pháp trừ chướng chân thật bậc nhất . Nếu đặt chữ RA ở con mắt thì sẽ được thanh tịnh, nhờ đó tri kiến cũng được thanh tịnh và hành giả mau chóng quán thành tựu thật tướng của Tâm tức là nhận biết được tâm Bồ Đề cực thanh tĩnh vốn có nơi mình Khi chữ RA được chuyển thêm thanh Tam Muội  nghĩa là chấm thêm điểm Đại Không trên đầu thì thành chữ RAM . Do điểm Đại Không biểu thị cho Tam Muội Đại Không nên RAM chính là Hỏa sinh Tam Muội, biểu thị cho Đại Không Trí Hỏa Tam Muội  là TRÍ PHÁP THÂN của Đại Nhật Như Lai có công dụng hay thiêu đốt tất cả bụi dơ vô thủy vô minh của chúng sinh và giúp cho mầm giống của Tâm Bồ Đề được sinh trưởng . Dựa vào công năng thiêu cháy hết tất cả bụi dơ ám chướng của Thế Gian để hiển bày Pháp Giới thanh tịnh bản nhiên mà RAM được gọi là Pháp Giới Sinh Chân Ngôn hay là Tịnh Pháp Giới Chân Ngôn . Từ ý nghĩa này, người hành Chân Ngôn thường trì niệm  OM RAM để làm cho 3 nghiệp Thân, Khẩu, Ý được trong sạch ; tiêu trừ tất cả tội chướng, thành tựu tất cả thắng sự và được thanh tịnh ở bất cứ nơi nào . Trong phẩm Tất Địa Xuất Hiện của Kinh Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì  có ghi : - Chữ LA ( RA ) chân thật thắng Phật nói : Nó trên lửa Có bao nhiêu nghiệp tội Đáng phải chịu quả báo Du kỳ ( yogì ) Người khéo tu Đẳng Dẫn đều tiêu trừ Trú nơi hình tam giác Khắp hình đỏ đẹp ý Lửa tỏa quanh vắng lặng Tam giác tại tim mình Tương ứng quán trong đấy Chữ LA, điểm Đại Không ( RAM) Bậc Trí như Du Già Dùng nó thành mọi việc Nhật Diệu, các quyến thuộc Làm được tất cả lửa Nhiếp giữ, phá oán đối Đốt hết mọi chi phần Các điều ấy nên làm Đều ở Trí Hỏa Luân .   Ngoài ra, Bậc cổ Đức còn có kệ rằng : - Chữ LA   sắc trắng sạch Dùng chấm Không thêm vào Như  Bảo Minh Châu kia Đặt nó ở trên đỉnh Chân Ngôn đồng  Pháp Giới Trừ vô lượng các tội Tất cả nơi xúc uế Thường trì Tự Môn này . Lại nữa, do ý nghĩa :Tiêu trừ tất cả bụi nhơ phiền não ám chướng  cho nên RAMÏ còn là chủng tử của Trừ Cái Chướng Bồ Tát ( Sarva Nivaranïa visïkambhin bodhisatva ) Vị Bồ Tát này hay trú ở Tam Muội Bi Lực, dùng tất cả các Môn trong Pháp Giới mà tĩnh trừ các nghiệp chướng cứu khổ chúng sinh . Viêc Trừ cái chướng này nhằm phá trừ mọi lưới mê vọng của chúng sinh và phủi sạch mọi bụi nhơ phiền não đang che phủ bản tâm thanh tĩnh như như vốn có của tất cả chúng sinh giúp họ chứng được con đường sáng tỏ của Pháp (Pháp Minh Đạo) là biết Tâm thực tế vốn chẳng sinh, Tâm ấy thanh tịnh an trụ sinh Đại Tuệ chiếu khắp vô lượng Pháp Tính, thấy rõ Đạo của Chư Phật hành, ít tốn công sức mà được Tam Muội Trừ Cái Chướng, thấy thực tướng của 84.000 nhóm báu, được đồng đẳng trụ với Chư Phật Bồ Tát, tự tâm chứng được Diệu tướng Trạm Nhiên của Chư Phật mười phương . Từ đó rộng làm Phật sự, nuôi dưỡng hạt giống Như Lai mà mau chóng được Quả Bồ Đề Nay trì niệm chủng tử RAMÏ này, hành giả sẽ mau chóng thấu ngộ được bản tính thanh tĩnh vốn có nơi mình, do đó tự phát khởi đức tin trong sạch thâm sâu nơi Phật Pháp và tự khai mở lại bản giác Như Như vốn có của mình . Đây là giai đoạn nương theo lực gia trì của Trí Pháp Thân , tu tập hai Pháp Bố Thí Ba La Mật ( Dàna pàramità ) với Trì Giới Ba La Mật (‘Sìla pàramità)  để dọn sạch đất Tâm và gieo trồng hạt giống Bồ Đề           II .VĂN THÙ NHẤT TỰ CHÂN NGÔN Om Shrim   Om Shrim có nghĩa là Tự Ngã an ổn trong các nhân tốt lành Đây là Chân Ngôn của Ngài Diệu Cát Tường Bồ Tát ( Mamïju‘sri Bodhisatva ) hay còn gọi là Nhất Kế Văn Thù Bồ Tát, Nhất Man Văn Thù Bồ Tát . Tôn hình của Ngài là thân đồng tử màu vàng, ngổi bán già trên toà sen ngàn cánh . Tay trái cầm hoa sen xanh, trên hoa sen có viên ngọc báu Như Ý . Tay phải hướng ra ngoài rũ năm ngón xuống thành Ấn MÃN NGUYỆN , miệng mỉm cười . Trên đỉnh, tóc kết thành một búi nên gọi là Nhất Kế hay Nhất Man Văn Thù . Trong Tôn tượng, hoa sen xanh biểu thị cho Tam Muội chẳng nhiễm dính các Pháp. Bảo Châu Như ý ( Viên ngọc báu Như Ý ) biểu tượng cho Phước Trí của Như Lai . Tay ấn Mãn Nguyện biểu thị cho sự làm thỏa mãn mọi ước nguyện của chúng sinh . Kinh Văn Thù Sư Lợi Căn Bản Nhất Tự Đà La Ni có ghi rằng : Chú này hay diệt trừ tất cả yêu quái tà ác, là Pháp Cát Tường của tất cả Chư Phật, cũng hay thành tựu tất cả Thần Chú . Tụng Chú này hay khiến cho chúng sinh khởi tâm Đại Từ, tâm Đại Bi . Tất cả chướng ngại đều được tiêu diệt và đều được đầy đủ mọi ước nguyện . Nếu có người nữ bị tai nạn lúc sinh sản hoặc người nam bị tên bắn cho đến bị tất cả các bệnh tật khổ, thì tụng Chú này sẽ trừ diệt được tất cả hiểm nạn . Lại nữa, chú Đà La Ni này hay khiến cho chúng sinh trong đời hiện tại đắc được an ổn, Chư Phật Đại Bồ Tát thường là quyến thuộc, tất cả sở nguyện đều được thành tựu Dựa vào ý nghĩa này, người hành Chân Ngôn thường trì tụng Om Shrim ể bảo hộ tự thân nhằm ngăn ngừa tất cả Quỷ Thần, Thiên Ma đến não hại và cầu được viên mãn mọi sở nguyện . Theo ý nghĩa khác, Văn Thù Sư Lợi là vị  Bồ Tát đã thông đạt Trí Tuệ thâm sâu của Như Lai, Trí Tuệ ấy chỉ có Chư Phật tự chứng biết chẳng có thể trao truyền lại cho người khác được . Nếu lìa phương tiện gia trì ắt chẳng ai có thể đạt đến được . Vì thế, vị Bồ Tát này trụ vào Tam Muội Thần Lực Gia Trì của Phật, dùng hạnh Anh Nhi ( trẻ thơ) trở lại hiện thân đồng tử cầm Báu Như Ý vô nhiễm trước, soi sáng tâm ám tối của chúng sinh khiến cho họ tự nhận biết rằng mình vốn có đầy đủ các công đức bình đẳng như Chư Phật, chỉ vì Vô minh ngăn che nên chẳng tự biết rõ . Nay được ánh quang minh Phước Trí soi tỏ thì phải thi hành vạn hạnh cho thành thục để khai mở hoa Bồ Đề . Trong thực tế, muốn thi hành vạn hạnh thì cần phải có sức kham nhẫn trong mọi hoàn cảnh, mọi trường hợp. Đồng thời phải có một ý chí sắt đá để ngăn ngừa dứt trừ các  Pháp Bất Thiện đồng thời nuôi dưỡng và phát huy các Pháp thiện  . Điều này có nghĩa là hành giả cần phải chuyên tâm tu tập hai Pháp Nhẫn Nhục Ba La Mật (Ksïànti pàramità ) và Tinh Tiến Ba La Mật (Vìrya pàramità )  để làm sáng tỏ tâm hạnh Bồ Đề . Như vậy,khi trì niệm Om Shrim hành giả sẽ tự giữ gìn được bản tâm thanh tịnh đồng thời tự tránh xa các Pháp ác, nuôi lớn các Pháp lành nhằm nuôi dưỡng hạt giống Tâm Bồ Đề đang nảy nở trong Tâm mình . Đây là giai đoạn nương theo Phước Trí Bình Đẳng của Chư Phật Bồ Tát, tu tập hai Pháp Nhẫn Nhục Ba La Mật, Tinh Tiến Ba La Mật để trưởng dưỡng Tâm Bồ Đề, tức là làm sáng tỏ ý nghĩa Trừ cái chướng vậy . III . LỤC TỰ ĐẠI MINH CHÂN NGÔN Om mani padme hum Khi trì niệm Om Mani Padme Hum   hành giả tự an trú tâm ý trong Pháp thiền định quán tưởng nhằm chận đứng sự lao xao cuồng động của Tâm Ý cho đến khi Cuồng Tâm ngưng nghỉ thì lúc ấy, hành giả tự chứng ngộ được bản tâm thanh tịnh vô nhiễm trước vốn có nơi mình nghĩa là chứng ngộ được Phật Tính bất sinh bất diệt  đang tiềm ẩn trong mọi nhân duyên sinh diệt . Đây là giai đoạn nương theo Trí  Phổ Môn Phương Tiện của Như Lai, tu tập Thiền Định Ba La Mật  ( Dhyàna pàramità ) để chứng ngộ Tâm Bồ Đề vậy . IV . CHUẨN ĐỀ CỬU THÁNH TỰ CHÂN NGÔN Namo Saptanam Samkyasamk Buddha Kotinam Tadyatha Om Cale Cule Cundle Svaha Namo Saptanam Samkyasamk Buddha Kotinam : có nghĩa là “Quy mệnh bẩy trăm triệu ( 7 ức ) Chính Đẳng Chính Giác”  - TADYATHÀ  : có nghĩa là  Mở Tạng Như Lai nói Thần Chú là  - OM : có nghĩa là Tam thân quy mệnh - CALE : là giác động, tức là chuyển động sự giác ngộ - CULE : là Trực khởi, tức là đi thẳng đến . - CUNDLE: là Tự tính thanh tĩnh của Tâm Bồ Đề . - SVÀHÀ : là Thành tựu vị an lạc của Đại Niết bàn. Om Cale Cule Cundle Svaha có nghĩa là : Khi Thân , Khẩu, Ý hợp nhất với sự giác ngộ Phật Tính, sẽ đi thẳng vào tự tính thanh tĩnh của tâm Bồ Đề và thọ nhận mùi vị an lạc tịch tĩnh của Đại Niết Bàn Chín chữ Thánh Tự này được bẩy ức ( 700 triệu )  Phật tuyên thuyết nhằm giúp chúng sinh khai mở được Bản Tâm cực thanh tĩnh vốn có của mình đồng thời khiến cho họ thọ nhận được mùi vị an lạc tịch tĩnh của Đại Niết bàn . Giai đoạn này chính là thành quả tu tập Tuệ Ba La Mật ( Prajnõà pàramità )  để dứt trừ các quả Hữu Lậu, thâm nhập vào quả Vô Lậu, Chứng Nhập Tâm Bồ Đề và vĩnh viễn thoát khỏi sự trói buộc của vòng sinh tử luân hồi . Kinh Thất Câu Đê Phật Mẫu Chuẩn Đề Đại Minh Đà La Ni  có ghi rõ Pháp tu theo Quán Hạnh Tam Ma Địa Du Già nhằm giúp cho hành giả mau chóng thấu ngộ được tự tính bản nhiên của Pháp Giới, để từ đó an nhiên vượt thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử như sau : Khi niệm tụng, hành giả tưởng tâm mình như vành trăng tròn sáng lớn, thanh tịnh lặng lẽ, trong ngoài sáng suốt . Nghĩa của các chữ đây tuy có lập văn tự mà thật ra không có văn tự . Đã không văn tự nên hành giả phải quán kỹ mỗi mỗi nghĩa tướng, xoay vần nối nhau, không có ký số, không cho đoạn tuyệt . Không đoạn tuyệt là nghĩa tối thắng, là nghĩa lưu trú không sinh diệt . Vì tối thắng lưu trú không sinh diệt nên vô hành . Vì vô hành nên vô tướng . Vì vô tướng nên không khởi trụ . Vì không khởi trụ nên vô cấu . Vì vô cấu nên vô đẳng giác . Vì vô đẳng giác nên không thủ xả . Vì không thủ xả nên bình đẳng giác không ngôn thuyết . Vì bình đẳng không ngôn thuyết nên vô nhân vắng lặng, vô trụ Niết bàn . Vì vô nhân vắng lặng, vô trụ Niết bàn nên tối thắng lưu trú không sinh diệt . Cứ như thế quán niệm xoay vần